Translate

Libellés

découvert (110) thơ; văn; nhạc; ảnh chụp; Caroline Thanh Hương (68) photographie (59) ký ức Việt Nam (44) santé (36) nghe đọc truyện hay (35) touriste (35) science naturelle (29) événement (28) nhạc Việt (27) nhạc Phạm Đức Nghĩa (20) art culinaire (19) philosophie (15) psychologie (15) văn chương (14) xã hội (12) nhạc không lời (11) science (11) ảnh Hương Kiều Loan (10) science économique (9) đọc và nghe đọc truỵên hay (9) xã hội Mỹ (8) aventure (6) news (6) société (6) thơ Đỗ Quý Bái (6) économie kinh tế (5) lịch sử (5) show Caroline Thanh Hương (5) sử Việt Nam (5) art (4) du lịch (4) littérature vietnamienne (4) Education (3) littérature (3) thơ Trần trọng Thiện (3) Canada (2) Les Contes vietnamiens truyện cổ tích việt nam (2) cách làm thơ hay và đúng (2) histoire secrète (2) l'histoire de France (2) mythe (2) technologie (2) thơ Huy Văn (2) thơ Hư Hao (2) tùy bút Caroline Thanh Hương (2) văn (2) Cần Thơ (1) David Oïstrakh (1) Dì Bùi Lệ Khanh (1) Economie (1) Montréal (1) Petrus Ky (1) Phan Thuận Breton (1) Québec (1) Stephen Hawking (1) Thơ văn Nguyễn Kiề (1) Trung Tâm Giáo Dục Hồng Bàng (1) Tạp Chí Dân Văn (1) Văn Xuân Vũ (1) astuce (1) bình luận Thuỵ Khê (1) ca sĩ Phi Nhung (1) ca sĩ Phạm Khải Tuấn (1) chân dung France Gall (1) fashion Jean-Paul Gaultier (1) fashion áo dài Việt Nam (1) học tiếng anh (1) informatique (1) ingénierie (1) nhạc Ngô Hồng Quang (1) nhạc Phạm Mỹ Lộc (1) nhạc ngoại quốc (1) nhạc ngoại quốc Steve Earle (1) photographie Vu Cong Hien (1) sport (1) thơ Chẩm Tá Nhân (1) thơ Lê Quang Chiểu (1) thơ Nhất Hùng (1) thơ Thanh Thanh. (1) thơ Trần Văn Lương (1) truyện ngắn; thơ Trần Văn Lương (1) văn Huy Phương (1) văn Thế Lữ (1) văn Tràm Cà Mau (1) văn chương văn nghệ Đoàn Thế Ngữ (1) văn câu đối (1) văn Đoàn Xuân Thu (1) xem phim hay tiếng ngoại quốc (1) Đại Học Văn Khoa (1)

vendredi 10 juin 2016

Nghe audio book Hai Tuồng Hát Bội của Vũ Đức Sao Biển và đọc bài của Lý Tường Trân viết về Nghệ Thuật Sân Khấu Miền Trung nói về Hát Bội.

Kính mời quý anh chị thao dỏi chương trình văn chương, văn nghệ Việt Nam, đặc biệt với câu chuyện về nguồn gốc hát bội với tác giả Lý Tường Trân.

Sau đó mời quý anh chị nghe  1 audio book kể về Hai Tuồng Hát Bội của tác giả Vũ Đức Sao Biển.

Chân thành cám ơn các tác gỉa bài viết cũng như người post Youtube.

Caroline Thanh Hương

oooo
Đọc thêm


 
 

Written by Lý Trường Trân   
Friday, 14 April 2006

  

 photo hatboi.jpg

Đặc San Quảng Nam - Đà Nẵng 2006

Nghệ Thuật Sân Khấu Miền Trung: “Hát Bội”


Lý Trường Trân


Đã là dân miền Trung không một ai là không nghe nói đến, hay một lần, đi xem hát bội, một nghệ thuật sân khấu đặt thù miền trung, nhất là tại hai tỉnh Quảng Nam va Bình Định, hai cái nôi chính của nghệ thuật này.

Các tỉnh miền Bắc có hát chèo, hát quan họ, miền Nam có cải lương, Hồ Quảng, kinh đô Huế có ca Huế và hò mái đẩy, còn hai tỉnh Quảng Nam và Bình Định tự hào có hát bội, một nghệ thuật sân khấu đã có thành tích trình diễn cho các nhà vua nhà Nguyễn và triều đình Huế thưởng lãm, mà nay nghệ thuật nầy đang lâm vào tình trạng điêu tàng và phế diệt, bởi lẽ hiện nay phần lớn khán giả không am hiểu, và vì không am hiểu nên không mấy thích thú duy trì và phát triển môn hát nầy.

Tại hai tỉnh Quảng Nam và Bình Định, tác giả các tuồng tích đều là các vị hưu quan, xuất thân từ tiến sĩ và phó bảng nho học đã từng làm Tuần Vũ hay Tổng Đốc khi về hưu, ngồi sáng tác và tập tuồng tại nhà, huấn luyện các con hát sinh sống trong vùng. Tại Quảng Nam thì có cụ Nguyễn Hiền Dĩnh, Tiến Sĩ, đã làm Tuần Vũ, về hưu tại làng An Quán, huyện Điện Bàn, nên nhân dân địa phương thường gọi là cụ Tuần An Quán. Tại Bình Định, thì có cụ Đào Tấn, Tiến Sĩ, đã làm Tổng Đốc tỉnh Quảng Nam thời mà tỉnh này đón mừng “Ngữ Phụng Tề Phi”.

Trong mỗi tỉnh lại có những làng tổ chức được các gánh hát bội vì dân ở đấy nhiều người có máu văn nghệ, như tại huyện Tam Kỳ có làng Khánh Thọ, huyện Quế Sơn thì có làng Đức Giáo, tại Bình Định thì có hai huyện An Nhơn Và Tuy Phước có nhiều nghệ sĩ có khả năng trong nghệ thuật hát bội. Nghệ thuật hát bội chia làm hai nhánh: một nhánh chuyên hát tuồng Đàn Bộ, và một nhánh hát tuồng Đàng Nước.

Những đình, chùa,miếu, vũ ở các làng, huyện có tổ chức xuân kỳ, Thu tế, hay các lễ khánh thành ở cở hành chánh, hoặc lễ cúng cá voi của ngư dân, thì thường mời các gánh hát bội Đàng bộ hát, còn các dịp khác thì mời các gánh hát tuồng Đàng nước.
Tuồng Đàng bộ, khi diễn xuất vẫn giữ nghi lễ và quy củ chơn chất, giữ truyền thống cổ điển của nền văn hóa phong kiến. Còn tuồng Đàng nước, nhờ tiếp xúc với khán giả cấp tiến nên có cải cách vài phần.

Các nghệ sĩ hát bội cũng được chính phủ Nam Triều cấp ngạch trật, phẩm hàm, theo ngành ca hát như thập phẩm, cửu phẩm, và con hát được mang chức đội ca,Quản ca, và các phẩm trật nầy được Bộ Lể triều đình Huế sắc phong và được Triều đình triệu tâp về Huế từ các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Thanh Hóa, để dự cuộc thi tại cung Duyệt Thị trong thành nội, dưới quyền giám khảo của vua. Năm 1916, có một cuộc thi hát bội toàn quấc, các tỉnh Quảng Nam, Thanh Hóa, Phú Yên và Bình Định tham dự, dưới quyền chủ tọa của vua Thành Thái tại cung Duyệt Thị, và ban hát tỉnh Quảng Nam được vua Thành Thái chấm về đầu, và Bình Định về nhì.
Trong gánh hát của Quảng Nam có hai nghệ sĩ diễn xuất đặc sắc có tên là Nhưng Đa và Nhưng Nguyên được Vua khen cho bốn chữ “Thế thượng vô song” và “Nhân gian đệ nhất”.

Tại miền Nam quần chúng thích hát bội, miền Bắc thì thích hát chèo, các loại hình sân khấu được những chuyên gia nghiên cứu gọi chung là nghệ thuật hát tuồng.

Theo Giáo sư Huỳnh Lý có nghiên cứu về hát bội thì từ khi có cuộc Nam Bắc phân tranh Trịng Nguyễn thì ở ngoài Bắc có hát tuồng (chèo) khắp nơi, nhất là tại Triều đình, Vương Phủ nhưng tại miền man chúa Nguyễn không thích hát chèo, nên chỉ cho hát bội mà thôi. Từ chúa Nguyễn Phước Lan trở đi, thì hát bội phát triển mạnh mẽ ở các tỉnh thành miền Trung, nên nghệ thuật này suốt hai thế kỷ qua, đã thấm nhuần vào tâm thức nhân dân miền Nam, do đó trong ngôn ngữ dân gian đàng trong, có nhiều từ ngữ và thành ngữ mượn từ các tuồng hát bội. Ví dụ những chữ: “độn thổ, anh em nhà họ Tạ, chạy đuổi như Tào Tháo, mang hia đội mão, vách mảy, vuốt râu, đánh bài tẩu mã, dốt như Huất Trì và xấu như Chung Vô Diệm v.v.”. Trong Nam thì lúc chưa có truyền hình, ngành hát bội được giữ theo lề lối cũ, bảo tồn nhờ sự thành lập của hội Khuyến Lệ cổ ca của cụ Đốc Phủ Sứ Đỗ Văn Rỡ và ông Nguyễn Văn Quý. Trong lúc đó, suốt thời kỳ sau hiệp định Giơneo 1954, nghệ thuật hát bội lại được chính quyền miền Bắc chú ý trực tiếp khôi phục, như việc GS. Hoàng Châu Ký soạn cuốn “Sơ Thảo Lịch Sử Nghệ Thuật Tuồng” xuất bản năm 1973, chỉ riêng nghiên cứu về nghệ thuật hát bội. Và gần đây trong nước có “Tự Điển Hát bội Việt Nam” với giáo sư Nguyễn Lộc làm chủ biên, nhà xuất bản Khoa HoÏc Xã Hội xuất bản năm 1998, tập hợp đầy đủ các kiến thức về ngành hát bội, với sự tài trợ của cơ quan Toyota Foundation. Dù sao thì đó chỉ là những nghiên cứu về một ngành sân khấu coi như đã cổ xưa, còn trong thực tế đời sống, hát bội vẫn vắng bóng trên sân khấu tuồng Việt Nam.

Hát bộ được giới bình dân tán thưởng vì nội dung hát bội gợi lên những tình cảm nhân bản của con người, như tình vua tôi, bạn hữu, mẹ con, trong xã hội sống theo lối Khổng Mạnh. Nội dung tuồng hát đã đánh trúng các khát khao thầm kín của người xem trong khuôn khổ đạo lý nhân bản, lễ nghĩa liêm sĩ, diệt nịnh phò trung, trọn nghĩa vẹn tình.


I. VÀI ĐẶC TÍNH

Hát bội là nghệ thuật sân khấu xây dựng trên luân lý Khổng, Mạnh, rút cốt truyện trong các tiểu thuyết của lịch sử Trung Quốc. Hát bội là nghệ thuật diễn tả các trái ngang mà con người phải gặp trong xã hội hàng ngày. Vì vậy, tuồng hát bội thường là một câu chuyện dài dòng trong một khúc quanh lịch sử, không thể chấm dứt trong một đêm diễn được, mà có thể kéo dài, mà khán giả thường gọi là hát kế tức sẽ tiếp tục hát trong nhiều đêm, và chính những tuồng kế này sẽ đánh vào chỗ nôn nao của khán giả muốn biết vở tuồng sẽ kết thúc như thế nào?


II. CÁC ĐIỆU HÁT VÀ TRANG BỊ SÂN KHẤU
Những điệu hát cơ bản của tuồng hát bội: Nói lối, (xưng tên họ, chức vụ khi mới ra tuồng).

Ví dụ Nguyên Soái Địch Thanh nói lối:

Phụng Thánh chỉ Bình Nam, ngã Địch Thanh Nguyên Súy, Lỡ bước vì Tiêu Đình Quy, gá duyên cùng công chúa Trại Ba Trăng Hồng Lâu dục thảm lòng ta. Gió cố quốc đưa sầu cho mổ

Hát Nam (từ lối Nam Xuân đến Nam Ai có 13 điệu).
Ví dụ Lưu Khánh được Địch Thanh sai về kinh dò tin bà mẹ bị vua giam, trở lại Tây Hạ đễ báo cáo với Nguyên Súy sự việc. Trước khi hát Nam, phải nói lối:

Chỉ đường dê, mấy dặm gập ghềnh, nương theo gió, một mình xông lướt

Hát tiếp:

“Xông lướt chân trời nhe nhẹ, đoái Cung Thiềm điện quế xa xa, Nguyên Súy, đình bộ, đình bộ, đặng tiểu tướng trần ngôn, trần ngôn…”

Địch Thanh nói:

“Nhìn vườn hồng chẳng có, xem bụi cỏ cũng không, nhớ rồi, chắc Lưu Gia mang những tin hồng, thấy bổn Súy nên dừng cánh hộc…”

Hát Nam Ai (có việc buồn, kể lể khóc lóc…)
Ví dụ: Địch Thanh giải thích cho Trại Ba tại sao phải trốn vợ, mà về Đường, vì mẹ đang bị giam, nên Trại Ba thông cảm và cho lệnh mở cửa ải để Địch Thanh lên đường. Trại Ba gọi tướng trấn ải Hóc Mang như sau:

“Bớ Hóc Mang! Truyền Hóc Mang mở ải, đặng ta đưa Nguyên Súy lên đường, rượu lưng vơi chưa cạn chén vàng, tình riu ríu nhìn đưa người ngọc.”

Hát:

“Riu ríu nhìn đưa nguời ngọc, biết bao giờ tay lại cầm tay…”

Hát Phú Lục (kể lể sự việc, nhắc nhở chuyện xưa) Câu của Lưu Bị
nhắc, xin tội cho Quan Công về việc Tào Tháo tại Huê Dung, hát:

"Tính Nhật Đào Viên hữu thệ, bất đồng danh duy đồng tử..."

Hát tẩu mã (có việc gấp, vừa hát vừa chạy…)
“Xich mã lân lân, nguyện tảo diệt sài lang chi bối…”

Nam Khách (có 11 điệu Nam Khách…)


Trang bị sân khấu gồm có:

Dụng cụ âm nhạc: Một trống nhỏ gọi là trống chiến, một thanh la,
một kèn đám, một đờn nhị, một cặp chập xõa. Xiêm giáp, giáp trụ, cân đai, hia (bốn loại), mão đội (tám loại khác nhau), râu (tám bộ, từ râu năm chòm đến râu ria), Roi ngựa, loan xa (xe vua đi), các binh khí: kiếm, đao, giáo, thương, kích, xà mâu. côn, thanh long đao.Cờ, Cờ chạy hiệu, cờ soái, cờ lệnh. Vẽ mặt, vẽ theo đúng trong truyện tả. Đóng vai kép thì có 21 loại kép từ kép câu, đến kép độc, kép núi…, đóng vai đào thì có sáu loại từ đào thương đến đào võ.

Trang trí sân khâu: ba tấm phông cuốn, một tấm cảnh triều đình, một tấm cảnh tư thất, một tấm cảnh trí thiên nhiên.
Hát bội có thờ một ông tổ hát bội, đặt trên một trang thờ, luôn luôn có hoa quả, hương đèn, mà mỗi diễn viên đến cúi lạy trước khi bước ra sân khâu. Nhưng diễn viên đóng vai các vị linh thiêng như Quan Công hay Phật Tổ, Quan Âm, đều ăn chay, nằm đất, và tịnh khẩu trước khi ra diễn xuất trên sân khấu.


III. Một số kịch bản tuồng
Hai cụ Đào Tấn ở Bình Định và cụ Nguyễn Hiền Dĩnh ở Quảng Nam là tác giả chính các tuồng dưới đây:
Sơn Hậu, Ngũ Hổ Bình Tây, Tiết Nhơn Quý Chinh Đông, Tiết Đinh San Chinh Tây, Phong Thần (Đắc Kỷ – Trụ Vương) Văn Trọng Gián Thập Điều, Tống Thái Tổ Trảm Trịnh Ân, Lưu Kim Đính Hạ Sơn, Lưu Kim Đính Giải Giá Thọ Châu, Phụng Nghi Đình, Lưu Bị Cầu Tả,Giang Tả Cầu Hôn, Quan Công Phò Nhị Tẩu, Tam Nữ Đồ Vương, Nghêu Sò Ốc Hến…
IV. Nghệ Thuật Cầm Chầu.

Đặc điểm hát bội là khi hát có đánh chầu. Trống chầu là một loại trống lớn, dùng trong các lễ hội, các đình chùa, đám rước, phát ra âm thanh ầm ĩ, lấn át cả tiếng các nhạc cụ khác. Trong trường hát, trống chầu được đặt trên một giá gỗ ba chân. Đặt phía trước sát sân khấu, và trên một chân, có treo một ống tre đựng các thẻ dùng để thưởng con hát. Trống chầu là nhịp cầu thông cảm giữa nghệ sĩ và khán giả. Trong những buổi trình diễn văn nghệ ngày nay, nếu nghệ sĩ diễn xuất hay thì khán giả vỗ tay, hoặc hát dở thì bị la ó, huýt sáo nhưng trong trình diễn hát bội, người cầm chầu với “roi chầu” trong tay, đóng vai trò đại diện cho toàn thể khán giả trong hội trường để thưởng hay phạt các nghệ sĩ trình diễn qua từng câu hát từng bộ tịch hay cử chỉ và đi vào cả từng chi tiết khác của buổi diễn xuất. Sự thẩm định này là một hình thức rất dân chủ, dân chủ hai chiều, chỉ có trong nghệ thuật hát bội.

Người cầm chầu được danh dự thay mặt khán giả trong hội trường để thẩm định hay dở phải có những điều kiện sau đây:
Am tường nội dung tuồng tập, và các vai thủ diễn, biết rõ các điệu hát để tiếp hơi nghệ sĩ và tán thưởng lối diễn xuất. Có địa vị và uy tín tại địa phương như thân hào nhân sĩ, hưu quan, quận trưởng, xã trưởng. Có khả năng tài chính để tưởng thưởng con hát. Trong trường hợp cúng đình làng, người khai chầu phải là Tiên Chỉ của làng. Trong nghệ thuật hát bội, thì con hát thường hay hát to tiếng để mọi người cùng nghe, nên hơi đem ra trong lúc hát hao tốn nhiều, rất cần những khoảng trống để nghỉ trước khi lấy hơi để bắt đầu hát lại. Nếu người cầm chầu muốn giúp nghệ sỉ, thì trong khoảng trống nghỉ hơi đó đánh một hai roi chầu để lấp chỗ trống, như vậy là “tiếp hơi” cho nghệ sĩ. Còn muốn phạt vì nghệ sĩ xấc láo với khán giả hay tỏ ra kiêu ngạo chẳng hạn, thì người cầm chầu đánh một hay hai roi chầu “vào trong họng” khi nghệ sĩ mới mở miệng hát, tiếng chầu sẽ át tiếng hát, không ai nghe được, và nghệ sĩ sẽ mất hơi nhiều, hát dở đi. Những tiếng trống chầu đánh liên tiếp rộn rã, và những thẻ tre của người cầm chầu quăn lên sân khấu tạo một sự hứng thú đối với nghệsĩ, và nao nức ồn ào của khán giả, tạo cho hội trường một không khí vui nhộn, tưng bừng, hào hứng.


Lý Trường Trân

  
Xin lưu ý với các bạn hữu Blogger, Website nào muốn trích đăng bài sưu tầm hay bài viết, thơ, nhạc của groupe chúng tôi về Blog, WordPress, Google Plus,​ của các anh chị, xin vui lòng đợi
 1 tuần ​sau khi bài trong Blog của chúng tôi đã đưa ra public.

Riêng phần tiếp chuyển, thì xin cám ơn quý anh chị đã giới thiệu dùm đến người thân quen.​

Caroline Thanh Hương

Aucun commentaire:

Enregistrer un commentaire